Giáo Dục

Giải GDCD 12 bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản


Hướng dẫn giải, tóm tắt nội dung bài học và làm bài tập bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản – trang 54 GDCD lớp 12. Tất cả các kiến thức trong bài học này đều được tóm tắt ngắn gọn, dễ học. Tất cả hệ thống bài tập đều được giải đáp cẩn thận, chi tiết. Chúng ta tham khảo để học tốt GDCD 12 bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản nhé.

Câu trả lời:

I. HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI CUỐI BÀI

Câu 1: Em hiểu thế nào là quyền tự do cơ bản của công dân? Theo em,….

Em hiểu thế nào là quyền tự do cơ bản của công dân? Theo em, vì sao các quyền tự do cơ bản của công dân cần phải được quy định trong Hiến pháp?

Trả lời:

Quyền tự do cơ bản của công dân là:

  • Quyền tự do cơ bản của công dân là chế định pháp lý cơ bản của Luật Hiến pháp, xác định địa vị pháp lý của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước và xã hội, là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ của công dân ở mọi cấp độ và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Các quyền tự do cơ bản của công dân cần phải được quy định trong Hiến pháp vì:

  • Hiến pháp là luật cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Mọi văn bản luật khác đều được ban hành dựa trên Hiến pháp, không được trái với Hiến pháp.
  • Các quyền tự do cơ bản của công dân là những quyền quan trọng nhất, không thể tách rời đối với mỗi cá nhân.
  • Quy định mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước và công dân, tạo điều kiện cho công dân được tôn trọng, bảo vệ và được phát triển toàn diện.

Câu 2: Nêu ví dụ về hành vi vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể….

Nêu ví dụ về hành vi vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân và giải thích tại sao em cho là vi phạm.

Trả lời:

Ví dụ về hành vi vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân:

Chị Hoa để xe máy trước cửa hàng rồi đi vào nhà sau lấy ít đồ. Khi đi vào thì xe chị không còn nữa. Nghe mấy người hàng xóm bảo có một người giống anh Nam lấy. Chị liền khẩn cấp báo công an Phường. Công an phường ngay lập tức đến nhà anh Nam để bắt giam.

Trong trường hợp này, việc làm của công an phường đã vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.

Đó là hành vi vi phạm bởi vì:

Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, có nghĩa là không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện Kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.

Trong trường hợp này, công an phường bắt anh Nam khi mới chỉ có lời khai từ một phía là chị Hoa, và đó cung chỉ là nghi ngờ không có căn cứ chứ không có quyết định của tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện Kiểm sát, cũng không phải trường hợp bắt được quả tang anh Nam đang ăn trộm xe của chị Hoa. Như vậy, đây là hành vi xâm phạm về thân thể của công dân, là hành vi trái pháp luật.

Câu 3: Theo em, có phải trong mọi trường hợp công an đều có quyền….

Theo em, có phải trong mọi trường hợp công an đều có quyền bắt người không? Vì sao?

Trả lời:

Không phải trong mọi trường hợp công an đều có quyền bắt người vì:

Không một ai, dù ở cương vị nào có quyền tự ý bắt và giam, giữ người vì những lí do không chính đáng hoặc do nghi ngờ không có căn cứ. Tự tiện bắt và giam, giữ người trái pháp luật là xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, là hành vi trái pháp luật.

Trong một số trường hợp cần thiết phải bắt, giam, giữ người để giữ gìn trật tự, an ninh, để điều tra tội phạm, để ngăn chặn tội phạm thì những cán bộ nhà nước có thẩm quyền thuộc Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án và một số cơ quan khác được quyền bắt và giam, giữ người, nhưng phải theo đúng trình tự và thủ tục do pháp luật quy định.

Câu 4: Thế nào là quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe,….

Thế nào là quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của công dân? Nêu ví dụ?

Trả lời:

Công dân có quyền được bảo đảm an tòan về tính mạng, sức khỏe, được bảo vệ danh dự và nhân phẩm; không ai được xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của người khác

Có nghĩa là:

  • Thứ nhất: Không ai được xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe của người khác. Đặc biệt nghiêm cấm những hành vi hung hãn, côn đồ, đánh người gây thương tích, làm tổn hại cho sức khỏe của người khác.
  • Thứ hai : Không ai được xâm phạm đến danh dự và nhân phẩm của người khác. Không bịa đặt điều xấu, tung tin ,nói xấu để hạ uy tín và gây thiệt hại về danh dự của người khác

Ví dụ: Hoa với Hạnh học cùng một lớp. Tuy nhiên, Hoa học giỏi hơn nên được nhiều thầy cô cũng như bạn nè yêu quý. Hạnh cảm thấy ghen tức nên đã lấy đồ của Nam bỏ vào túi Hoa để vu khống Hoa đã lấy đồ của Nam, để mọi người khinh bỉ và ghét Hoa.

Trong trường hợp này, Hạnh đã xâm phạm tới danh dự và nhân phẩm của công dân.

Câu 5: Em hiểu thế nào là quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân?

Trả lời:

Chỗ ở của công dân được nhà nước và mọi người tôn trọng, không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.

Chỉ trong trường hợp được pháp luật cho phép thì mới được khám xét chỗ ở của một người. Việc khám xét cũng không được tuỳ tiện mà phải tuân theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật qui định

Do đó, về nguyên tắc, không được ai tự tiện vào chỗ ở của người khác. Trừ một số trường hợp như sau:

  • Trường hợp 1 .Khi có căn cứ khẳng định chỗ ở của người đó có công cụ, phương tiện để thực tiện tội phạm hoặc có đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án
  • Trường hợp 2. Khám chỗ ở của một người nào đó được tiến hành khi cần bắt người đang bị truy nã hoặc người phạm tội quả tang lẫn tránh.

Câu 6: Em hãy nêu ví dụ về quyền được bảo đảm an toàn và bí mật….

Em hãy nêu ví dụ về quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín

Trả lời:

Ví dụ về quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín:

Bác đưa thư đến nhà Hoa gửi thư nhưng Hoa di vắng nhà, nhân tiện thấy Thảo nhà bên đang chơi ngoài sân, bác đã nhờ Thảo chuyển giúp lá thư cho Hoa khi Hoa về. Thảo đồng ý. Tuy nhiên, cầm lá thư trên tay Thảo tò mò nên  đã bóc lá thư của Hoa để đọc. Như vậy Thảo đã vi phạm quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín.

Câu 7: Hãy cho biết học sinh trung học phổ thông có thể sử dụng….

Hãy cho biết học sinh trung học phổ thông có thể sử dụng quyền tự do ngôn luận như thế nào.

Trả lời:

  • Thực hiện quyền tự do ngôn luận trong nhà trường, lớp học bằng cách trực tiếp phát biểu ý kiến trong giờ học, thảo luận tại lớp, phát biểu trong giờ sinh hoạt lớp, đóng góp ý kiến với giáo viên, Ban Giám hiệu trường,… nhằm xây dựng trường học, môi trường giáo dục trở lên tốt hơn. Ngoài ra cũng có thể góp ý qua hòm thư góp ý của nhà trường.
  • Gửi bài đăng báo, trong đó bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình về những vấn đề trong cuộc sống để ủng hộ cái đúng, cái tốt, phê phán và phản đối cái sai, cái xấu.
  • Đóng góp ý kiến khi được trưng cầu ý kiến về những vấn đề liên quan đến cuộc sống của bản thân, những vấn đề mình quan tâm cho các đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân…

Câu 8: Bằng kiến thức đã được học và qua thực tế cuộc sống, hãy chứng minh…

Bằng kiến thức đã được học và qua thực tế cuộc sống, hãy chứng minh rằng Nhà nước ta luôn bảo đảm các quyền tự do cơ bản của công dân

Trả lời:

Để đảm bảo quyền tự do cơ bản của công dân, nhà nước ta đã và đang hoàn thiện hơn các bộ luật điều luật, Hiến pháp, Bộ luật tố tụng hình sự, luật dân sự trong đó có các quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước ddảm bảo cho công dân được hưởng đầy đủ các quyền tự do cơ bản mà Hiến pháp và luật quy định.

Ngoài ra, thông qua pháp luật, Nhà nước xử lí, trừng trị nghiêm khắc những hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm thô bạo đến các quyền tự do cơ bản của công dân

Hiện nay, bộ luật hình sự đã có một số điều quy định trừng trị các tội xâm phạm đến quyền tự do cơ bản của công dân, như: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; tội vu khống; tội xâm phạm chỗ ở của công dân; tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác; tội bức cung;…

Nhằm bảo vệ tối đa các quyền cơ bản của công dân, nhà nước đã tổ chức và xây dựng bộ máy các cơ quan bảo vệ pháp luật, bao gồm Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án,… các cấp từ Trung ương đến địa phương, thực hiện chức năng điều tra, truy tố, xét xử để bảo vệ các quyền tự do cơ bản của công dân, bảo vệ cuộc sống yên lành của mọi người dân.

Các cơ quan trên đây thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật, có quyền tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định theo nguyên tức tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra xem xét những biện pháp được áp dụng đã hợp pháp và cần thiết chưa; nếu xem xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa thì phải kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó.

Câu 9: Do có chuyện hiểu lầm nhau nên H và T đã cãi nhau to tiếng và xô xát nhẹ. Khi đó có mấy người cùng thôn đã tới xem và chia thành hai phe cổ vũ cho hai bên. Ông Trưởng công an xã biết chuyện này nên đã cho người đến bắt H và T về trụ sở Ủy ban, trói tay và giam trong phòng kín 13 giờ liền mà không có quyết định bằng văn bản. Trong thời gian bị giam giữ, H và T không được tiếp xúc với gia đình và không được ăn. Vì quá căng thẳng trong thời gian bị giam giữ nên sau khi được thả thì cả hai người đều bị ốm.

Hỏi: Hành vi giam người của ông Trưởng công an xã có bị coi là trái pháp luật không? Hãy giải thích vì sao?

Trả lời:

Hành vi của ông Trưởng công an xã bị coi là hành vi trái pháp luật, bởi vì:

Thứ nhất, theo Điều 71 Hiến pháp năm 1992 có quy định : Quyền bất khả xâm phạm về thân thể có nghĩa là không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện Kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.Trong trường hợp này, H và T chưa đến mức phải bắt giam

Thứ hai: Theo Điều 71 Hiến pháp năm 1992 :“ Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể , được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ…”. Trong trường hợp này, ông trưởng công an xã đã làm cả H và T đều bị ốm, làm tổn hại đên sức khỏe của họ => vi phạm pháp luật

Câu 10: Chọn câu trả lời đúng trong các câu dưới đây.

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể có nghĩa là:

a. Trong mọi trường hợp, không ai có thể bị bắt

b.Công an có thể bắt người nếu nghi là phạm tội.

c. Trong mọi trường hợp, chỉ được bắt người khi có quyết định của tòa án.

d. Chỉ được bắt người khi có lệnh bắt người của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

e. Chỉ được bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang.

f. Việc bắt người phải theo quy định của pháp luật.

g. Người đang phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì ai cũng có quyền bắt.

Trả lời:

Đáp án đúng là:

d. Chỉ được bắt người khi có lệnh bắt người của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

g. Người đang phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì ai cũng có quyền bắt.

Câu 11: Chọn câu trả lời đúng trong các câu sau đây:

Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở có nghĩa là:

a.Trong mọi trường hợp, không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.

b.Chỉ được khám xét chỗ ở của một người khi được pháp luật cho phép và phải có lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

c.Công an có quyền khám chỗ ở của một người khi có dấu hiệu nghi vấn ở nơi đó có phương tiện, công cụ thực hiện tội phạm.

d.Việc khám xét chỗ ở phải theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

e.Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác, nếu không được người đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

Trả lời:

Đáp án đúng là:

d.Việc khám xét chỗ ở phải theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

e. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác, nếu không được người đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

II. CÂU HỎI BỔ SUNG

Câu 1: Em hãy cho biết: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân;…

Em hãy cho biết: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân là gì? Nêu nội dung của các quyền đó? Công dân phải làm những gì để thực hiện tốt các quyền tự do cơ bản?

Trả lời:

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân có nghĩa là không ai bị bắt nếu như không có quyết định của tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện Kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.

Nội dung: Không một ai dù ở cương vị nào có quyền tự ý bắt và giam giữ người vì những lí do không chính đáng hoặc do nghi ngờ không có căn cứ.Trong một số trường hợp cần thiết phải bắt, giam giữ người thì cán bộ nhà nước có thẩm quyền  phải tuân theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân: Chỗ ở của công dân được nhà nước và mọi người tôn trọng, không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý. Chỉ trong trường hợp được pháp luật cho phép và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được khám xét chỗ ở của một người. Trong trường hợp này thì việc khám xét cũng không được tiến hành tùy tiện mà phải tuân theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Nội dung:

  • Cá nhân, tổ chức tự tiện vào chỗ ở của người khác, tự tiện khám chỗ ở của công dân là vi phạm pháp luật. Về nguyên tắc không ai được tự tiện vào chỗ ở của người khác.
  • Tuy nhiên trong trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật cho phép mới được khám xét chỗ ở của người khác, tuy nhiên cũng không được khám xét tùy tiện mà phải tuân theo những trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

Để thực hiện các quyền tự do cơ bản, công dân cần:

  • Công dân phải học tập, tìm hiểu để nắm được các quyền tự do cơ bản của mình, biết phân biệt hành vi đúng pháp luật và hành vi vi phạm pháp luật để bảo vệ mình, người xung quanh.
  • Biết phê phán, đấu tranh trước những việc làm sai trái vi phạm các quyền tự do cơ bản của công dân.
  • Tích cực tham gia giúp đỡ cán bộ nhà nước thi hành quyết định bắt người, khám xét chỗ ở trong trường hợp được pháp luật cho phép.
  • Tự rèn luyện, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật để sống văn minh tôn trọng pháp luật, tự giác tuân thủ pháp luật của nhà nước, tôn trọng quyền tự do cơ bản của người khác.

Câu 2: Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự….

Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của công dân được pháp luật quy định trong điều bao Luật bao nhiêu của Hiến pháp năm 1992? Nêu nội dung của điều luật đó?

Trả lời:

  • Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của công dân được pháp luật quy định trong điều 71 của Hiến pháp năm 1992.
  • Nội dung của Điều 71 Hiến Pháp năm 1992 là:
    • Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.
    • Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.
    • Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân.

Câu 3: Em hiểu thế nào là quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín,….

Em hiểu thế nào là quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín? Nếu như ai đó bóc thư từ của em xem bị em phát hiện được thì em sẽ xử lí như thế nào?

Trả lời:

Quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư từ, điện thoại, điện tín có nghĩa là thư tín, điên thoại, điện tín của các cá nhân được đảm bảo an toàn  và bảo mật. Việc kiểm soát điện tín, điện thoại, thư tín được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Không ai được tự tiện bóc mở, thu giữ, tiêu hủy thư, điện tín của người khác.

Nếu như ai đó bóc thư từ của em xem mà em phát hiện được thì em sẽ bình tĩnh hỏi rõ mọi chuyện.

Nếu họ xem thư của em chỉ vì tò mò hay vì mục địch khác. Nếu sau khi bị phát hiện xem trộm thư của mình người đó có thái độ ăn năn, hối hận và biết nhận lỗi thì em sẽ phân tích việc làm sai của họ và nhanh chóng tha lỗi cho họ và khuyên họ không bao giờ làm những hành động như vậy. Bởi đó khôn chỉ là hành động xấu mà còn là hành động vi phạm pháp luật.

Ngược lại, nếu họ chối cãi và không chịu nhận lỗi thì em sẽ nhờ đến sự giúp đỡ của cơ quan chính quyền những người có thẩm quyền để giải quyết.

Câu 4: Tại sao công dân cần phải có trách nhiệm phê phán, đấu tranh,….

Tại sao công dân cần phải có trách nhiệm phê phán, đấu tranh, tố cáo những việc làm trái pháp luật, vi phạm quyền tự do cơ bản của công dân?

Trả lời:

Công dân cần phải có trách nhiệm phê phán, đấu tranh, tố cáo những việc làm trái pháp luật, vi phạm quyền tự do cơ bản của người khác vì:

Để đảm bảo một nhà nước theo khuôn  khổ và ngày càng phát triển hơn, tốt đẹp hơn thì cần phải hệ thống pháp luật. Đó là những điều giúp cho con người tốt hơn, ngày càng hoàn thiện mình hơn. Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay còn rất nhiều người “lách luật” chỉ chăm chăm vào kẽ hở của pháp luật để làm những điều xấu. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ, quản lí nhà nước không thể kiểm soát hết và phát hiện hết được những hành vi vi phạm pháp luật đó. Vì vậy, là một công dân, mỗi người nên có ý thức lên án đối với những hành vi vi phạm pháp luật.

Đồng thời, chúng ta cùng cần phải lên án, phê phán những hành vi vi phạm quyền tự do cơ bản của công dân. Ngoài việc thực hiện nghĩa vụ của mình đối với đất nước thì công dân cũng có lại cho mình những quyền của công dân. Các quyền này được đặt ở vị trí đầu tiên, quan trọng nhất được nhà nước và pháp luật bảo vệ. Do đó, những người có ý đồ xâm phạm đến quyền cơ bản của công dân cũng là những hành vi vi phạm pháp luật cần phải phê phán, tố cáo để được xử lí, góp phần làm xã hội ngày càng lành mạnh và văn minh hơn.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
You cannot copy content of this page