Wiki

Ninpuu Sentai Hurricaneger

Ninpuu Sentai Hurricaneger
Nhật Bản
Số tập 51
Sản xuất
Nhà sản xuất Hikasa Jun
Matsuda Saeko
Tsukada Hideaki
Yada Kōichi
Thời lượng 25 phút
Trình chiếu
Kênh trình chiếu TV Asahi
Định dạng hình ảnh 480i (SDTV)
Phát sóng 17 tháng 2 năm 2002 – 9 tháng 2 năm 2003
Thông tin khác
Chương trình trước Hyakujuu Sentai Gaoranger
Chương trình sau Bakuryuu Sentai Abaranger

Ninpuu Sentai Hurricaneger (忍風戦隊ハリケンジャー (Nhẫn phong Chiến đội Hurricaneger), Ninpū Sentai Harikenjā?), dịch là Chiến đội Nhẫn phong Hurricaneger, là series Super Sentai thứ 26 của Toei Company và là series thứ 2 nói về đề tài Ninja (sau Kakuranger). Bản Mỹ hóa mang tên Power Rangers:Ninja Storm.

Cốt truyện


Từ xa xưa, có 2 trường phái Ninja đối đầu nhau là Tật Phong (Hayate) và Tấn Lôi (Ikazuchi). Họ chiến đấu, cạnh tranh với nhau suốt hơn 500 năm, cho đến tận ngày nay. Tại học viện Ninja Tật Phong, có 3 học viên tuy có tiềm năng lớn nhưng cá biệt thuộc 3 khóa khác nhau là Shiina Yousuke (khóa Không Nhẫn), Nono Nanami (khóa Thủy Nhẫn) và Bitou Kouta (khóa Lục Nhẫn). Một ngày nọ, khi các học viên khác đang dự lễ tốt nghiệp, thì 3 học viên này lại trốn học bỏ đi chơi. Nhưng lúc đó, một tổ chức Ninja tà ác từ ngoài vũ trụ là Jakanja tấn công học viện, giết toàn bộ học viên. Hiệu trưởng Hinata Mugensai phải dùng thuật biến bản thân thành chuột lang để tự cứu mình. Yousuke, Nanami và Kouta lúc đó không ở học viện nên may mắn thoát nạn. Họ được Hinata Oboro, con gái của hiệu trưởng dẫn đến căn cứ bí mật dưới lòng đất. Lúc đó, hiệu trưởng Mugensai trao cho họ thiết bị biến thân để trở thành Hurricaneger, đứng lên chống lại Jakanja, bảo vệ Trái Đất. Sau này, họ gặp được 2 anh em Kasumi Ikkou và Kasumi Isshu, cũng là 2 học viên duy nhất sống sót của học viện Ninja Tấn Lôi do học viện này cũng chịu chung số phận bị Jakanja tấn công. Sau khi hóa giải những hiểu lầm, giờ đây các Ninja của 2 trường phái đối lập phải đứng chung chiến tuyến với nhau, cùng với sự giúp sức của một đồng đội bí ẩn là Shurikenger, chống lại Jakanja, ngăn cản sự ra đời của “Vật đó” và bảo vệ nhân loại.

Nhân vật


Hurricaneger

Roll call

Red: “Người đời không biết” (人も知らず, “Hito mo shirazu…”?)

Blue: “Thế gian chẳng hay” (世も知らず, “You mo shirazu…”?)

Yellow: “Hoá thành ảo ảnh đả kích tà gian!” (影となりて悪を討つ。, “Kage to narite aku wo utsu!”?)

“Nhẫn phong Chiến đội Hurricaneger, Tham thượng!” (忍風戦隊ハリケンジャー、あ、参上 , “Ninpū Sentai Harikenja, a-san-n-n-jō!”?)

Shīna Yōsuke (椎名 (しいな) 鷹介 (ようすけ) (Truỳ Danh Ưng Giới), Shīna Yōsuke?) / Hurricane Red (ハリケンレッド, Hariken Reddo?)

“Gió gào thét, trời phẫn nộ. Không Nhẫn, Hurricane Red!” (風が泣き、空が怒る。 空忍ハリケンレッド, “Kaze ga naki, sora ga ikaru. Soranin Hariken Reddo!”?)

Là đội trưởng nhưng… chậm hiểu, nóng tính và thiếu thận trọng. Bù lại, Yousuke luôn lạc quan, nhiệt tình và luôn nghĩ cho bạn bè. Cậu là người đầu tiên đặt niềm tin vào 2 anh em Gouraiger và giúp họ trở thành một phần của cả nhóm, thậm chí dám liều mạng để cứu sống Ikkou, và 2 người hình thành tình bạn sau lần đó. Khi còn học ở học viện, Yousuke có một người bạn thân cùng khoá Không Nhẫn là Taishu Ichiro. Đây thực sự là đôi bạn cùng…lùi: đội sổ cùng nhau, thi trượt cùng nhau, và cùng nhau chịu phạt. Nhưng khác với Ichiro bỏ dở giữa chừng, Yousuke luôn cố gắng cải thiện để chứng minh bản thân xứng đáng là “Người kế thừa truyền thuyết”. Sau trận chiến với Jakanja, Yousuke khăn gói chu du khắp thế giới. 10 năm sau, anh gặp một cậu bé tên Tenkai, sau này được tiết lộ là tái sinh sau cái chết của kẻ cầm đầu Thế lực Tà ác. Nhưng Yousuke đã giúp Tenkai vượt qua bóng tối bên trong cậu, trở thành Shurikenger kế nhiệm.

Nono Nanami (野乃 (のの) 七海 (ななみ) (Dã Ái Thất Hải), Nono Nanami ?) / Hurricane Blue (ハリケンブルー, Hariken Burū?)

“Nước nhảy múa, sóng lăn tăn. Thủy Nhẫn, Hurricane Blue!” (水が舞い、波が踊る。 水忍ハリケンブルー, “Mizu ga mai, nami ga odoru. Mizunin Hariken Burū!”?)

Thành viên nữ duy nhất trong đội, là cô gái dễ thương và luôn quan tâm đến mọi người. Cô luôn mơ ước trở thành ngôi sao ca nhạc, nhưng việc vừa phải chạy lịch trình, vừa phải làm nhiệm vụ của Hurricaneger không dễ dàng chút nào, vì cứ hễ có lịch đi hát, đi diễn là Jakanja lại xuất hiện, khiến cô phải bỏ dở công việc giữa chừng để đi làm nhiệm vụ. Sau trận chiến với Jakanja, cô cùng Isshu đến Tây Ban Nha làm việc trong movie “Bakuryuu Sentai Abaranger vs Hurricaneger“. Ở movie “Ninpuu Sentai Hurricaneger: 10 years after“, Nanami giờ đây đã là ngôi sao của ngành giải trí Nhật Bản

Bitō Kōta (尾藤 (びとう) 吼太 (こうた) (Vĩ Đằng Hống Thái), Bitō Kōta?) / Hurricane Yellow (ハリケンイエロー, Hariken Ierō?).

“Đất rung chuyển, hoa ca hát. Lục Nhẫn, Hurricane Yellow!” (大地が震え、花が歌う。 陸忍ハリケンイエロー, “Daichi ga furue, hana ga utau. Okanin Hariken Ierō!”?)

Là chàng trai tốt bụng, luôn giúp đỡ người khác. Cậu cũng là người làm việc luôn có kế hoạch cụ thể, rõ ràng. Cậu có một cô em gái tên Bitou Mieko cũng tốt bụng như anh trai. Từ nhỏ hai anh em đã mồ côi cha mẹ, bà ngoại cũng qua đời khi Kouta mới 4 tuổi. Bên cạnh việc làm Hurricaneger, cậu còn làm nhân viên điều dưỡng trong bệnh viện. Cậu có thời gian ngắn được chọn làm đội trưởng thay Yousuke, nhưng vì thấy bản thân không phù hợp nên đã đê Yousuke tiếp tục được làm đội trưởng. Ở movie “Ninpuu Sentai Hurricaneger: 10 years after“, Kouta là người duy nhất trong nhóm lập gia đình và có 2 đứa con.

Gouraiger

Kabuto: “Đối mặt bóng tối, chém bóng tối” (影に向かいて影を斬り, “Kage ni mukaete, kage wo kiru…”?)

Kuwaga: “Đối mặt ánh sáng, chém ánh sáng!” (光に向かいて光を斬る、。, “Hikari ni mukaete, hikari wo kiru!”?)

“Điện Quang Thạch Hỏa Gouraiger, Kiến tham!” (電光石火ゴウライジャー、見参!, “Denkō Sekka Gōraijā, kenzan!”?)

Cùng lúc với học viện Tật Phong, học viện Tấn Lôi cũng bị Jakanja tấn công và giết toàn bộ học viên, chỉ còn sót lại hai anh em nhà Kasumi. Nhưng bất chấp điều đó, họ lại gia nhập Jakanja, nhằm có được “Vật đó” và chứng tỏ học viện Tấn Lôi là học viện đào tạo những Ninja giỏi nhất, với lời nhắn do cha họ để lại: “Khi kẻ mạnh đánh bại kẻ mạnh, “Vật đó” sẽ xuất hiện!”. Thực chất, ”kẻ mạnh” trong lời đoán kia không phải Hurricaneger và Gouraiger, mà chính là 2 anh em họ. Kẻ mạnh chỉ có thể bị đánh bại bởi người cùng sinh ra trong bóng tối (“bóng tối” và “cha mẹ” trong tiếng Nhật phát âm giống nhau). Ý của Kasumi Ikki là 2 đứa con của ông phải tiêu diệt nhau, làm cho “Vật đó” xuất hiện. Ikkou hiểu được ẩn ý của cha, nhưng không nói cho Isshu biết, dùng mọi cách để Isshu giết mình. Nhưng nhờ có Hurricaneger và chính tình anh em bền chặt, họ đã hiểu ra mình chỉ là con cờ trong tay Jakanja cũng như là công cụ để giúp cha mình hoàn thành mục đích. Họ quyết định từ bỏ “Vật đó”, hợp tác với Huricaneger cùng nhau đánh bại Jakanja.

Kasumi Ikkō ( (かすみ) 一甲 (いっこう) (Hà Nhất Giáp), Kasumi Ikkō?) / Kabuto Raiger (カブトライジャー, Kabuto Raijā?).

“Ánh chớp đỏ thẫm. Giác Nhẫn, Kabuto Raiger!” (深紅の稲妻 角忍カブトライジャー, “Shinkō no inazuma. Tsunonin Kabuto Raijā!”?)

Là người với vẻ ngoài cứng rắn, lạnh lùng, nhưng bên trong lại luôn nghĩ cho những người xung quanh, nhất là em trai Isshu. Hiểu được ẩn ý của cha, Ikkou đã tình nguyện hít khí độc, mất hết lý trí để Isshu có thể giết mình. Nhưng tình anh em sâu sắc đã khiến cậu lấy lại lý trí, hiểu ra cha mình chỉ là kẻ hèn nhát và vô nhân tính. 2 anh em quay lưng lại với Jakanja, hợp tác với Hurricaneger. Nhưng mới đầu, Ikkou rất coi thường Hurricaneger, cho rằng một đám học sinh cá biệt trở thành chiến binh nhờ may mắn thì chẳng có gì đáng tự hào. Nhưng cậu đã thay đổi cách nhìn khi thấy ý chí sắt đá của Yousuke. Sau này, Ikkou bị Tam giáo đầu Manmaruba cấy trứng của bọ cạp vũ trụ vào người, với lời tiên đoán rằng ngày trăng tròn cũng là ngày trứng nở, và cậu sẽ chết ngay lập tức. Cách duy nhất để cứu Ikkou là dĩ độc trị độc, đưa nọc độc của bò cạp vũ trụ vào cơ thể một người sống để chế huyết thanh, sau đó rút huyết thanh đưa vào cơ thể cậu. Yousuke biết được, tình nguyện bị bò cạp chích để cứu Ikkou, khiến Ikkou vô cùng cảm kích. Và rồi cũng chính Ikkou tự tay tiêu diệt Manmaruba. Ngoài việc làm Gouraiger, Ikkou còn đi làm cho các công trình xây dựng. Ở movie “Ninpuu Sentai Hurricaneger: 10 years after“, Ikkou giờ đây là ca sỹ, đi hát trong các quán bar.

Kasumi Isshū ( (かすみ) 一鍬 (いっしゅう) (Hà Nhất Thiêu), Kasumi Isshū?) / Kuwaga Raiger (クワガライジャー, Kuwaga Raijā?).

“Sấm sét xanh trời. Nha Nhẫn Kuwaga Raiger!” (蒼天の霹靂 牙忍クワガライジャー, “Sōten no hekireki. Kibanin Kuwaga Raijā!”?)
Là em trai của Ikkou, rất thần tượng cha và anh. Isshu cũng là người ham muốn sức mạnh, để có thể vượt qua cha và anh. Nhưng chính vì điều đó mà cậu suýt hại chết cả nhóm khi cầm Quỷ Lôi Hoàn – vũ khí năm xưa của cha cậu để chiến đấu. Nhưng bản chất của Quỷ Lôi Hoàn là vũ khí chuyên để sát hại đồng đội. Tuy nhiên Isshu đã nhận ra sai lầm, dùng chính Quỷ Lôi Hoàn chém chết một tên tay sai của Jakanja. Isshu cũng là tên khá nhát gái, có cảm tình với Nanami mà không dám nói ra. Nhưng 10 năm sau, anh quay ngoắt 180 độ, trở nên cợt nhả, thích cà khịa người khác, và là một tay chơi sát gái.

Shurikenger

Shurikenger (シュリケンジャー, Shurikenjā?)
“I am Ninja of Ninja! Lục Quang đạn! Thiên Không Nhẫn Giả Shurikenger! (I am Ninja of Ninja!緑の光弾!天空忍者シュリケンジャー, Ai amu Ninja obu Ninja! Midori no Kōdan! Tenkū Ninja Shurikenjā?)(21-49)

Là Ninja có 2 chế độ khuôn mặt. Anh từng là học viên rất xuất sắc thuộc khóa Không nhẫn của học viện Tật Phong, được mong đợi sẽ trở thành Hurricaneger trong truyền thuyết nhưng sau đó mất tích một cách bí ẩn. Và rồi anh gặp Ngự Tiền Đại Nhân, trở thành thuộc hạ của bà. Từ đó anh từ bỏ nhân dạng, trở thành Shurikenger. Anh thường cải trang thành những nhân dạng khác và hay sử dụng những câu tiếng Anh không đầu không đuôi. Vì là thuộc hạ của Ngự Tiền Đại Nhân, Shurikenger chỉ làm theo lệnh của bà, thậm chí phải gạt bỏ an nguy của Hurricaneger và Gouraiger sang một bên. Nhưng lương tâm không cho phép anh bỏ mặc đồng đội nên đã kháng lệnh, giải cứu cho Hurricaneger và Guaigger. Nhưng điều đó khiến Ngự Tiền Đại Nhân bị Thất giáo đầu Sandaaru tóm gọn, chiếm lấy huy hiệu Cung Tên Than Thở bi phong ấn trong cơ thể bà, có nghĩa là bà sẽ chết ngay tức khắc. Anh dằn vặt, trở nên điên dại, chỉ nghĩ tới trả thù, nhưng vẫn đủ tỉnh táo để trao lại cho Hurricaneger và Gouraiger bí mật để tấn công vào sào huyệt Jakanja, rồi tự mình lái Thiên Không Thần, liều chết với Lục giáo đầu Satarakura. Trước khi ra đi, anh nói rằng “Người ta có thể quên tên một loài hoa, nhưng sẽ không bao giờ quên vẻ đẹp của nó“, khẳng định bản thân sẽ luôn chiến đấu, thực thi nhiệm vụ dù có còn nhân dạng hay không. Anh xuất hiện trở lại trong Ninpuu Sentai Hurricaneger vs Bakuryuu Sentai Abaranger để giúp Hurricaneger và Abaranger.

Trong Ninpu Sentai Hurricaneger: 10 years after, một cậu bé tên Tenkai đã trở thành Shurikenger mới.

Lần gần nhất Shurikenger xuất hiện là ở tập 43 của Shuriken Sentai Ninninger để tổ chức khóa huấn luyện mùa đông cho Ninninger dưới sự ủy quyền của Ủy ban bảo vệ danh dự Ninja (忍者の名誉を守る委員会 Ninja no meiyo o mamoru iinkai).

Khác

  • Hinata Mugensai (日向 (ひなた) 無限斎 (むげんさい), Hinata Mugensai?). Hiệu trưởng học viện Hayate, Để tránh bị Jakanja bắt, ông biến thành chuột lang nhưng lại quên mất thần chú biến thành người.
  • Hinata Oboro (日向 (ひなた) おぼろ, Hinata Oboro?). Con gái của thầy hiệu trưởng, là kĩ thuật viên máy tính và là người hỗ trợ trang bị cho Huricaneger.
  • Kakura / Ngự Tiền Đại Nhân (39-48).
  • Công chúa Raina (Movie).
  • Knuckle.( Người hầu của Raina ) ( Movie )
  • Yuusaku Ramon (28).

Nhóm Ninja Vũ Trụ Jakanja (宇宙忍群ジャカンジャ, Uchūningun Jakanja?).

  • Thủ lĩnh Tau Zanto (首領タウ・ザント, Shuryō Tau Zanto?): Thủ lĩnh của Jakanja.
  • Bảy Giáo Đầu Hắc Ám (暗黒七本槍, Ankuro Shichihon Yari?).
    • Nhất Giáo Đầu, Furabiijo (壱の槍・フラビージョ, Ichinoyari Furabījo?, 1-50, Abaranger vs. Hurricaneger, Boukenger vs. Super Sentai). Là một cô nàng nhí nhảnh và hồn nhiên. Cô ta phục vụ Tau Zanto vô điều kiện, làm việc như một người đánh giá kết quả của những tên thuộc hạ tay sai và các giáo đầu khác. Furabiijo luôn vui tươi và hòa đồng nhưng cũng vì thế mà hay bị coi thường, bị đánh giá là thành viên yếu kém nhất trong nhóm 7 Giáo Đầu Bóng Tối.
    • Nhị Giáo Đầu, Chuuzubo (弐の槍・チュウズーボ, Ninoyari Chuuzubō?, 1-19, Hurricaneger vs. Gaoranger). Là một thầy pháp, luôn xung phong và rất nhiệt tình. Hắn có thù với Gouraiger, đặc biệt là Isshu (KuwagaRaiger) vì Isshu luôn có ý chống đối hắn. Chuuzubo là kẻ lập kế hoạch nhằm thực hiện lời tiên tri thứ hai, khiến hai anh em Gouraiger đánh giết lẫn nhau, nhưng thất bại vì sự can thiệp của Hurricaneger.
    • Tam Giáo Đầu, Manmaruba (参の槍・マンマルバ , Sannoyari Manumaruba?, 1-37). Là một nhà tiên tri với khả năng tiên đoán có độ chính xác gần như tuyệt đối. Ban đầu, hắn là một con bọ cạp nhỏ bay lơ lửng trước khi đóng kén và tiến hóa. Khi còn nhỏ, Manmaruba khá hồn nhiên và ngây thơ, hay nói nhiều và thường xuyên lải nhải về những lời tiên tri, khiến các Giáo Đầu khác cảm thấy phiền phức. Nhưng khi trưởng thành thì không chỉ có ngoại hình mà tính cách của Manmaruba cũng thay đổi, trở nên lạnh lùng và ít nói. Năng lực trí tuệ và sức mạnh chiến đấu của hắn cũng đáng sợ hơn. Manmaruba là kẻ đã cấy bọ cạp vào người Ikkou để giết cậu, nhưng rồi lại nhìn thấy tương lai bị chính Ikkou tiêu diệt. Trước khi chết, hắn đã để lại một Manmaruba thứ 2, và thậm chí còn tiến hóa lên thành quái vật khổng lồ, gắn vòng cổ hút sinh lực lên Hurricaaneger và nuốt Gouraiger vào bụng. Nhưng hắn lại bị tiêu diệt với quyết tâm của Hurricaneger.
    • Tứ Giáo Đầu, Wendinu (四の槍・ウェンディーヌ, Shinoyari Wendīnu?, 1-50, Abaranger vs. Hurricaneger). Là một cô nàng sỡ hữu ngoại hình gợi cảm và quyến rũ. Wendinu là bạn thân của Furabiijo. Cô ta chủ yếu chỉ có công việc hồi sinh cho các tên quái vật tay sai sống lại rồi biến chúng trở thành khổng lồ theo lời nhờ vả của các Giáo Đầu còn lại. Wendinu cũng là một trong hai nữ Giáo Đầu duy nhất của Jakanja sở hữu hình dạng con người cùng với Furabiijo nhưng kỹ năng và sức mạnh của Wendinu luôn được đánh giá cao hơn nhiều so với Furabiijo. Wendinu luôn tự hào về vẻ đẹp gợi cảm sexy của mình và luôn tự tin cho mình là Đệ Nhất Kunoichi (Nữ Ninja) Vũ Trụ, chính vì điều này mà đôi lúc khiến cô và Furabiijo lại nảy sinh những bất đồng quan điểm rồi cãi vã lẫn nhau. Cùng với Furabiijo, thì Wendinu cũng là kỳ phùng địch thủ của Nanami (Hurricane Blue).
    • Ngũ Giáo Đầu, Sargain (五の槍・サーガイン , Gonoyari Saagain?, 1-43). Sargain là một tên quái vật tí hon ngoài hành tinh mang hình dạng như một con kiến điều khiển cơ thể robot tự chế. Hắn là thiên tài cơ khí và các quái thú của hắn được hồi sinh bằng một robot mô phỏng khổng lồ – Copy Giant được Wendinu kích hoạt nhờ vào thiết bị điều khiển của cô ta. Ở giai đoạn sau của cốt truyện, Sargain thường chế tạo ra những cỗ máy khổng lồ để chống lại các Shinobi Machine. Sargain được đánh giá là một trong những Giáo Đầu thông minh tài giỏi và mạnh mẽ nhất của Jakanja, hắn rất được sự tín nhiệm của Wendinu và Furabiijo. Khi Sandaaru đến Trái Đất với Mũi Tên Phẫn Nộ, Sargain đã tìm ra được các giải phóng sức mạnh từ Medal để tranh công nhưng sau khi bị đánh bại, hắn đã bị chính Sandaaru ra tay tiêu diệt.
    • Lục Giáo Đầu, Satarakura (六の槍・サタラクラ, Rokunoyari Satarakura?, 20-49). Satarakura luôn tỏ ra mình là một tay hài hước nhưng thật ra là một đối thủ cực kì đáng sợ. Hắn rất thích chơi những trò chơi trí tuệ như trò chơi giải câu đố, hắn có thói quen diễn trò tấu hài và là đại kình địch của Shurikenger. Các quái thú tay sai của hắn được hồi sinh bởi những chiếc mặt nạ khổng lồ do Wendinu ném ra và hắn đảm nhận hầu hết các kế hoạch sau cái chết của Chuuzubo, Manmaruba và trước khi Sandaaru đến Trái Đất.
    • Thất Giáo Đầu, Sandaaru (七の槍・サンダール, Shichinoyari Sandaaru?, 39-50). Sandaaru là kẻ nham hiểm xảo quyệt nhất và mạnh nhất trong số các giáo đầu. Trên thực tế hắn chưa từng thua trong bất kì một trận solo nào nếu có chuẩn bị trước. Các quái thú quạt của hắn chỉ có kích thước nhất định và hắn có thể sử dụng bất cứ lúc nào hắn muốn. Sandaaru không đặt lòng trung thành vào Tau Zanto mà muốn chiếm vật đó cho riêng mình. Sandaaru không hề tin tưởng bất cứ ai ngoại trừ chính bản thân hắn và những con quái thú do hắn trực tiếp điều khiển. Hắn không từ bất cứ một thủ đoạn nào để đạt được mục đích và tham vọng cá nhân của mình. Hắn cũng không tiếc tay hạ sát những đồng minh khiến hắn chướng mắt, tiêu biểu là Sargain.
  • Chubouzu (Hurricaneger vs. Gaoranger). Chubouzu là em trai của Chuuzubo, hắn là kẻ lên kế hoạch khống chế các Gaoranger nhằm cướp đoạt sức mạnh của họ để tiêu diệt Hurricaneger với mong muốn trả thù cho Chuuzubo thay thế vị trí của anh mình trở thành một trong những Thất Giáo Đầu.
  • JaniIga (Abaranger vs. Hurricaneger).
  • Hạ Nhẫn Magerappa (下忍マゲラッパ Genin Magerappa).
  • Satarakura Jr. (六の槍・サタラクラ, Satorakura Junia?, Gokaiger)
  • Sandaaru Jr. (七の槍・サンダール, Sandaaru Junia?, Gokaiger)

Tập phim


Các tập trong Hurricaneger được gọi là cuộn (maki 巻, quyển). Tên các tập viết bởi hai danh từ được nối với nhau bằng từ (と, to?), làm cho tên các tập phim đều có ít nhất hai chủ ngữ.

  1. Ngọn gió và các nhẫn giả (風とニンジャ, Kaze to Ninja?)
  2. Cự nhân và Karakuri (巨人とカラクリ, Kyojin to Karakuri?)
  3. Kẻ giả dạng và 60s (ニセモノと60秒, Nisemono to Rokujūbyō?)
  4. Đường hầm và Tình anh em (トンネルと兄妹, Tonneru to Kyōdai?)
  5. Quán trưởng và Nhà tắm (館長とお風呂, Kanchō to Ofuro?)
  6. Kéo và Nữ nhẫn giả (ハサミとくノ一, Hasami to Kunoichi?)
  7. Sấm sét và Nhẫn giả (雷とニンジャ, Ikazuchi to Ninja?)
  8. Tật Phong và Tấn Lôi (疾風(はやて)と迅雷(いかづち), Hayate to Ikazuchi?)
  9. Anh em sấm sét và Đồng hồ cát (雷兄弟と砂時計, Ikazuchi Kyōdai to Sunadokei?)
  10. Lôi thần và Thung lũng hủy diệt (雷神と滅びの谷, Raijin to Horobiru no Tani?)
  11. Hương vị ảo mộng Khởi đầu tươi mới (夢喰いと再出発, Yumekui to Saishuppatsu?)
  12. Khối thép, Cha và Con gái (テッコツと父娘(おやこ), Tekkotsu to Oyako?)
  13. Ria mép và Nhẫn cầu hôn (ヒゲと婚約指輪, Hige to Nin’yakuyubiwa?)
  14. Cậu bé khóc nhè và Kẹo bi (泣き虫とあめ玉, Nakimushi to Amedama?)
  15. Rệp nước khổng lồ và Tranh đoạt chiến (タガメと争奪戦, Tagame to Sōdatsusen?)
  16. Sương mù và Thiết bị dự báo (霧と予言装置, Kiri to Kanegoto Sōchi?)
  17. Bóng tối và Đảo tử chiến (暗闇と死闘の島, Kurayami to Shitō no Shima?)
  18. Cha và Tình anh em (父と兄弟の絆, Chichi to Kyōdai no Kizuna?)
  19. Hộp lớn và Phong lôi cự nhân (大箱と風雷巨人, Dai Hako to Fūrai Kyojin?)
  20. Nắm đấm và Kỳ phùng địch thủ (パンチと好敵手(ライバル), Panchi to Raibaru?)
  21. Mặt nạ và Giải đố (仮面とナゾナゾ, Kamen to Nazonazo?)
  22. Đôi cánh và Nhẫn giả (翼とニンジャ, Tsubasa to Ninja?)
  23. Hương thơm và Đại thám tử (コロンと名探偵, Koron to Meitantei?)
  24. Taiko và Sấm sét (タイコと稲妻, Taiko to Inazuma?)
  25. Con ma và Nữ sinh (オバケと女学生, Obake to Jogakusei?)
  26. Cung tên và Tắm biển (弓矢と海水浴, Yumiya to Kaisuiyoku?)
  27. Gà nướng và Không trọng lực (串焼きと無重力, Kushiyaki to Mujūryoku?)
  28. Hurrier và Phản công (ハリアーと逆襲, Hariā to Gyakushū?)
  29. Cái nóng ngày hè và Con tem (残暑とスタンプ, Zansho to Sutanpu?)
  30. Thần tượng và Tình bạn (アイドルと友情, Aidoru to Yūjō?)
  31. Lưu tinh và Tam Lang (流星と三匹の狼, Ryūsei to Sanbiki no Ōkami?)
  32. Thần chết và Mật nghĩa cuối cùng (死神と最終奥義, Shinigami to Saishū Okugi?)
  33. Mammoth và 6 Ninja (マンモスと6人, Manmosu to Rokunin?)
  34. Nấm và 100 điểm (キノコと100点, Kinoko to Hyakuten?)
  35. Chói sáng và Shamisen (キラリと三味線, Kirari to Shamisen?)
  36. Vòng và Phục thù (リングと復讐, Ringu to Fukushū?)
  37. Tam giáo đầu và Đại đào tẩu (三の槍と大脱出, Sannoyari to Dai Dasshutsu?)
  38. Ma thương và Bong bóng (魔剣とふうせん, Maken to Fūsen?)
  39. Thất giáo đầu và Hòn đá bí ẩn (七の槍と謎の石, Shichinoyari to Nazo no Ishi?)
  40. Mồi nhử và Nhẫn giả luật (オトリと忍の掟, Otori to Nin no Oite?)
  41. Huy chương và Hài kịch sĩ (メダルと漫才, Medaru to Manzai?)
  42. Áo giáp và Mũi tên phẫn nộ (鎧と怒りの矢, Yoroi to Ikari no Ya?)
  43. Siêu kết hợp và Đại tấn công (超合体と大激突, Chō Gattai to Dai Gekitotsu?)
  44. Đại nhân ngự tiền và Hung Phiến Thú (御前様と凶扇獣, Omae-sama to Kyō Ōgijū?)
  45. Nơi trú ẩn và Tổng vệ sinh (隠れ家と大掃除, Kakurega to Ōsōji?)
  46. Bữa tất niên và Tam cự nhân (おせちと三巨人, Osechi to San Kyojin?)
  47. Phong ấn và Vũ trụ thống nhất (封印と宇宙統一, Fūin to Uchū Tōitsu?)
  48. Cái bẫy và Sự sống bất tử (罠と永遠の命, Wana to Eien no Inochi?)
  49. Sứ mệnh và Thiên không nhẫn giả (使命と天空忍者, Shimei to Tenkū Ninja?)
  50. Bóng tối và Tân thế giới (暗黒と新世界, Ankoku to Shin Sekai?)
  51. Gió, Nước và Đất (風と水と大地, Kaze to Mizu to Daichi?)

Đặc biệt

  • Ninpuu Sentai Hurricaneger vs. Gaoranger
  • Ninpuu Sentai Hurricaneger Shushuuto the Movie
  • Ninpuu Sentai Hurricaneger Super Video: Super Ninja and Super Kuroko
  • Ninpuu Sentai Hurricaneger: Super Ninpou CD
  • Bakuryuu Sentai Abaranger vs. Hurricaneger
  • GoGo Sentai Boukenger vs. Super Sentai
  • Ninpuu Sentai Huricaneger: 10 Years After

Diễn viên


Chính

  • Shioya Shun (塩谷 瞬, Shioya Shun?): Shiina Yousuke / Hurricane Red.
  • Nagasawa Nao (長澤 奈央, Nagasawa Nao?): Nono Nanami / Hurricane Blue.
  • Yamamoto Kōhei (山本 康平, Yamamoto Kōhei?): Bitou Kouta / Hurricane Yellow.
  • Shirakawa Yūjirō (白川 裕二郎, Shirakawa Yūjirō?): Kasumi Ikkou / Kabuto Raiger.
  • Kyō Nobuo (姜 暢雄, Kyō Nobuo?): Kasumi Isshu / Kuwaga Raiger.
  • Matsuno Taiki (松野 太紀, Matsuno Taiki?): Kagura Asuka / Shurikenger (Lồng tiếng).
  • Nishida Ken (西田 健, Nishida Ken?): Hinata Mugensai.
  • Takada Shōko (高田 聖子, Takada Shōko?): Hinata Oboro.
  • Dan Jirō (団 時朗, Dan Jirō?): Kasumi Ikki.
  • Miwa Hitomi (三輪 ひとみ, Miwa Hitomi?): Ngự tiền Kakura .
  • Yanada Kiyoyuki (梁田 清之, Yanada Kiyoyuki?): Tao Zanto (Lồng tiếng).
  • Yamamoto Azusa (山本 梓, Yamamoto Azusa?): Furabijo.
  • Fukuzumi Mio (福澄 美緒, Fukuzumi Mio?): Wendinu.
  • Gōri Daisuke (郷里 大輔, Gōri Daisuke?): Chuuzubo (Lồng tiếng).
  • Okamoto Yoshinori (岡本 美登, Okamoto Yoshinori?): Sargain.
  • Imamura Takahiro (今村 卓博, Imamura Takahiro?): Manmaruba (Lồng tiếng).
  • Shimada Bin (島田 敏, Shimada Bin?): Satorakura (Lồng tiếng).
  • Ikeda Shūichi (池田 秀一, Ikeda Shūichi?): Sanderu (Lồng tiếng).
  • Miyata Hironori (宮田 浩徳, Miyata Hironori?): Dẫn truyện / FūraiMaru (Lồng tiếng).

Diễn viên phục trang

  • Fukuzawa Hirofumi (福沢 博文, Fukuzawa Hirofumi?): Hurricane Red, Gouraijin.
  • Ono Yūki (小野 友紀, Ono Yūki?): Hurricane Blue.
  • Takeuchi Yasuhiro (竹内 康博, Takeuchi Yasuhiro?): Hurricane Yellow.
  • Kusaka Hideaki (日下 秀昭, Kusaka Hideaki?): Kabuto Raiger, Senpuujin, Gourai Senpuujin, Tenrai Senpuujin.
  • Imai Yasuhiko (今井 靖彦, Imai Yasuhiko?): Kuwaga Raiger, Megatagame.
  • Mimura Kōji (三村 幸司, Mimura Kōji?): Shurikenger, Tenkuujin.
  • Hachisuka Yūichi (蜂須賀 祐一, Hachisuka Yūichi?): Chuuzubo, Sanderu, Manmaruba.

Khách

  • Ōshiba Hayato: Thám tử Kakio Tarou (Tập 23).
  • Matsukaze Masaya: Misaki Katsuya (Tập 26).
  • Fuji Toshiya: Ramon Yuusaku (Tập 28).
  • Oba Kenji: Retsudou (Tập 45).
  • Kishi Yūji: Chubouzu (voice) (Hurricaneger vs. Gaoranger).
    • Namekawa Kazuya (Tập 35).
  • Nakao Akiyoshi: Cậu bé.
  • Nishioka Ryuuichirou: Tsuzumi Roppei (Tập 24).
  • Noumi Tatsuya: Hamada Sanpei (Tập 42).
  • Masujima Yasuhiro: Hashimoto Kisei (Tập 34).
  • Koizumi Tomohide: Sakaki Teppei (Tập 39).
  • Shishido Masaru: Kikuchi Jou (Tập 44).

Âm nhạc


Đầu
  • Hurricaneger Sanjō!” (ハリケンジャー参上!, Harikenjā Sanjō!?, “Hurricaneger tham thượng!”).
    • Lời: Oikawa Neko (及川 眠子, Oikawa Neko?).
    • Sáng tác & Cải biên: Ike Takeshi (池 毅, Ike Takeshi?).
    • Thể hiện: Takatori Hideaki.
Kết
  • Ima, Kaze no Naka de” (いま 風のなかで, Ima, Kaze no Naka de? “Bây giờ, bên trong cơn gió”).
    • Lời & Sáng tác Takatori: Hideaki.
    • Cải biên: Kagoshima Hiromasa.
    • Thể hiện: Kageyama Hironobu.

Chú thích


Hãng phim Phương Nam không mua bản quyền để thuyết minh cho Huricaneger cho tới khi mua bản quyền hai series Sentai là Gokaiger và Shuriken Sentai Ninninger; khi có sự xuất hiện trong các series khác thì được thuyết minh là “Siêu nhân Nhẫn phong”.

Những năm về trước, loạt phim Huricaneger đều do những Trung tâm, xưởng thuyết minh phim tư nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh thuyết minh và phát hành VCD lậu nên Huricaneger có nhiều phiên bản thuyết minh khác nhau.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button