Wiki

Sergio Ramos

Sergio Ramos
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Sergio Ramos García
Ngày sinh 30 tháng 3, 1986 (35 tuổi)
Nơi sinh Camas, Tây Ban Nha
Chiều cao 1,84 m (6 ft 0 in)
Vị trí Trung vệ
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay Paris Saint-Germain
Số áo 4
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1996–2003 Sevilla
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2003–2004 Sevilla B 26 (2)
2004–2005 Sevilla 50 (3)
2005–2021 Real Madrid 469 (72)
2021– Paris Saint-Germain 0 (0)
Đội tuyển quốc gia
2002 U-17 Tây Ban Nha 1 (0)
2004 U-19 Tây Ban Nha 6 (0)
2004 U-21 Tây Ban Nha 6 (0)
2005– Tây Ban Nha 180 (23)
Thành tích

Bóng đá nam
Đại diện cho  Tây Ban Nha
Giải vô địch bóng đá thế giới
Vô địch Nam Phi 2010
Cúp Liên đoàn các châu lục
Á quân Brasil 2013
Nam Phi 2009
Giải vô địch bóng đá châu Âu
Vô địch Áo & Thụy Sĩ 2008
Vô địch Ba Lan & Ukraina 2012
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia và chính xác tính đến 13 tháng 3 năm 2021
‡ Số lần khoác áo đội tuyển quốc gia và số bàn thắng chính xác tính đến 31 tháng 3 năm 2021

Tên người này tuân theo phong tục tên gọi Tây Ban Nha; họ thứ nhất hay họ cha là Ramos và họ thứ hai hay họ mẹ là García.

Sergio Ramos García (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [ˈseɾxjo ˈramoz ɣaɾˈθi.a]; sinh ngày 30 tháng 3 năm 1986) là một cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha. Anh thi đấu ở vị trí trung vệ cho Paris Saint-Germain tại Ligue 1 và là đội trưởng của Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha.

Sự nghiệp câu lạc bộ


Sevilla

Ramos bắt đầu sự nghiệp ở vị trí hậu vệ cánh phải, đây cũng là vị trí thường trụ của anh trong thời kỳ đầu của sự nghiệp cầu thủ. Sau 2 năm chơi bóng tại La Liga, với Sevilla, anh thể hiện được khả năng phòng thủ.

Real Madrid

Real Madrid ký hợp đồng với Ramos sau khi giao cho Sevilla 27 triệu Euro vào mùa hè năm 2005 . Cuộc chuyển nhượng biến anh thành cầu thủ dưới 20 tuổi có giá đắt thứ 3 sau Wayne Rooney. Tại Real, anh được mặc áo số 4, số áo của huyền thoại Fernando Hierro một thời.

Ramos ghi bàn thắng đầu tiên tại Champions League trong trận Real Madrid gặp Olympiakos, mà Real đã bị đánh bại với tỉ số 2-1. Anh bắt đầu chơi ở vị trí trung vệ của Real, và còn được sử dụng như một tiền vệ phòng ngự, cánh phải ở một số trường hợp. Cho đến khi có sự xuất hiện của Christoph Metzelder và Pepe, Ramos chuyển sang cánh phải và giữ vững ở vị trí đó. Mùa giải 2006-07, anh đã có một màn trình diễn rất ấn tượng sau khi tạo cơ hội tốt cho Raúl ghi bàn vào lưới Barcelona tại Santiago Bernabéu, ngay phút thứ hai của trận đấu.

Ramos đã chứng tỏ khả năng ghi bàn của mình tại Madrid vào mùa giải sau với Real, khi ghi 20 bàn thắng trong màu áo Kền kền trắng. Vào một buổi trả lời phỏng vấn với Grada Blanca, anh tiết lộ rằng mình từng chơi ở vị trí tiền đạo khi còn nhỏ.

Vào 4 tháng 5 năm 2008, Ramos tạo cơ hội ghi bàn cho Gonzalo Higuain vào phút thứ 89, trong trận gặp Osasuna, đưa Real Madrid lên ngôi vô địch La Liga lần thứ 31.

Bàn thắng thứ 4 và thứ năm của mùa giải được Ramos ghi trong trận đấu cuối mùa với Levante mà Real đã thắng 5-2. Sergio Ramos từ đó đã có ý định chơi ở Real Madrid cho đến hết sự nghiệp.

Vào ngày 13 tháng 7 năm 2008, có tin rằng đội bóng Manchester United đã liên hệ với hậu vệ trẻ này. Anh phát biểu trên đài Radio Canal Sur: “Đó là một cơ hội tốt để đến với câu lạc bộ lớn mà tôi luôn hâm mộ, nhưng vào thời điểm này tôi không muốn bận tâm nhiều. Tôi có một hợp đồng dễ chịu với Madrid và tôi đang tập trung cho đội tuyển quốc gia. Khi World Cup 2010 kết thúc, tôi mới quyết định được.” .

Ngày 17 tháng 6 năm 2021, CLB Real Madrid xác nhận Sergio Ramos đã chính thức nói lời chia tay với đội bóng sau 16 năm cống hiến.

Paris Saint-Germain

Vào ngày 8 tháng 7 năm 2021, anh ký hợp đồng với Paris Saint-Germain cho đến ngày 24 tháng 6 năm 2023 . Anh sẽ mang áo số 4 ở đội bóng mới như anh ấy đã mặc trong 16 năm của mình ở Real Madrid .

Kỷ lục về kỷ luật


Ramos giữ kỷ lục bị phạt thẻ đỏ nhiều nhất cho một cầu thủ Real Madrid (26 tính đến cuối năm 2019); Tại La Liga anh đã bị đuổi ra khỏi sân 19 lần, vượt qua kỷ lục được Xavier Aguado và Pablo Alfaro giữ chung.

Sự nghiệp cấp quốc tế


Vào năm 2004, Ramos là một trong những cầu thủ nổi bật của đội U21 Tây Ban Nha, chơi 6 trận quốc tế. Cho đến 26 tháng 3 năm 2005, năm 19 tuổi, tại Salamanca, anh trở thành cầu thủ trẻ nhất chơi cho đội tuyển Tây Ban Nha trong 55 năm trở lại, ở trận gặp Trung Quốc. Một ít lâu sau kỷ lục này đã bị phá vỡ bởi Cesc Fàbregas.

Anh đã ghi dấu ấn trong sự nghiệp quốc tế của mình trong trận gặp Serbia và Montenegro, một trận đấu vòng loại của World Cup 2006. Ramos được gọi vào đội tham dự World Cup 2006 vào 15 tháng 5 năm 2006, Bởi vì Míchel Salgado vắng mặt, anh trở thành lựa chọn tốt nhất ở vị trí hậu vệ cánh phải.

Tại Euro 2008, anh là một cầu thủ nổi bật của đội tuyển, cùng với những cầu thủ trẻ khác, đã đưa Tây Ban Nha lần thứ 2 lên ngôi vô địch châu Âu sau khi đánh bại Đức 1-0.

Vào ngày 27 tháng 5 năm 2018 (giờ Việt Nam), Sergio Ramos đã có tình huống khóa tay cầu thủ Liverpool là Mohamed Salah trong trận chung kết UEFA Champions League 2018 và buộc cầu thủ đó phải rời sân vì chấn thương vai. Các bác sĩ ở Liverpool xác nhận thủ môn Karius bị chấn thương vùng đầu sau pha giật cùi chỏ của anh trong trận đấu tại Kiev. Không loại trừ đây có thể là nguyên nhân khiến anh thi đấu thiếu tập trung và liên tục mắc sai lầm trong hiệp hai. Bác sĩ Ross Zafonte ở Boston, Mỹ cho biết: “Sau buổi kiểm tra toàn diện, chúng tôi xác nhận Karius phải thi đấu với chấn thương vùng đầu vào ngày 26/5. Cậu ấy có triệu chứng rối loạn thị giác gây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chơi bóng”.

Thống kê


Tính đến 16 tháng 3 năm 2021
Câu lạc bộ Giải đấu Mùa giải La Liga Cup1 Châu Âu Khác2 Tổng cộng
Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng
Sevilla La Liga 2003–04 7 0 0 0 0 0 0 0 7 0
2004–05 31 2 5 0 5 1 0 0 41 3
2005–06 1 0 0 0 0 0 0 0 1 0
Tổng cộng 39 2 5 0 5 1 0 0 49 3
Real Madrid 2005–06 33 4 6 1 7 1 0 0 46 9
2006–07 33 5 3 0 6 1 0 0 42 6
2007–08 33 5 5 1 7 0 0 0 45 10
2008–09 32 4 2 1 8 1 0 0 42 9
2009–10 33 4 0 0 7 0 0 0 40 6
2010–11 31 3 7 1 8 0 0 0 46 6
2011–12 34 3 6 0 11 1 0 0 51 6
2012–13 26 4 5 0 9 1 0 0 40 5
2013–14 32 4 8 0 11 3 0 0 51 4
2014–15 27 4 4 1 8 0 3 2 42 3
2015–16 23 2 0 0 10 1 33 3
2016–17 28 7 3 1 11 1 2 1 44 3
2017–18 26 4 1 0 11 1 4 0 42 3
2018–19 28 6 6 3 5 0 3 2 42 11
2019–20 35 11 2 0 5 2 2 0 44 13
2020–21 15 2 0 0 4 2 1 0 20 4
Tổng cộng 469 72 48 7 128 15 25 7 670 101
Tổng cộng sự nghiệp 534 76 53 7 134 16 25 7 746 106

1 Bao gồm Supercopa de España.
2 Bao gồm UEFA Super Cup và FIFA Club World Cup.

Đội tuyển quốc gia

Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2021
Năm Số lần ra sân Số bàn thắng
2005 7 2
2006 13 0
2007 10 2
2008 15 0
2009 11 0
2010 16 1
2011 10 1
2012 16 2
2013 17 1
2014 9 1
2015 6 0
2016 9 0
2017 9 3
2018 13 4
2019 9 4
2020 8 2
2021 2 0
Tổng cộng 180 23

Bàn thắng quốc tế

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 13 tháng 10 năm 2005 Sân vận động Olimpico, San Marino, San Marino  San Marino 0–3 0–6 Vòng loại World Cup 2006
2. 0–4 0–6
3. 13 tháng 10 năm 2007 Sân vận động Atletion, Aarhus, Đan Mạch  Đan Mạch 0–2 1–3 Vòng loại Euro 2008
4. 17 tháng 11 năm 2007 Sân vận động Santiago Bernabéu, Madrid, Tây Ban Nha  Thụy Điển 3–0 5–0
5. 3 tháng 3 năm 2010 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Pháp 0–2 0–2 Giao hữu
6. 6 tháng 9 năm 2011 Sân vận động Las Gaunas, Logroño, Tây Ban Nha  Liechtenstein 4–0 6–0 Vòng loại Euro 2012
7. 16 tháng 10 năm 2012 Sân vận động Vicente Calderón, Madrid, Tây Ban Nha  Pháp 1–0 1–1 Vòng loại World Cup 2014
8. 14 tháng 11 năm 2012 Sân vận động Rommel Fernández, Panama City, Panama  Panama 4–0 5–1 Giao hữu
9. 22 tháng 3 năm 2013 Sân vận động El Molinón, Gijón, Tây Ban Nha  Phần Lan 1–0 1–1 Vòng loại World Cup 2014
10. 8 tháng 9 năm 2014 Sân vận động Ciutat de València, Valencia, Tây Ban Nha  Bắc Macedonia 5–1 Vòng loại Euro 2016
11. 5 tháng 9 năm 2017 Sân vận động Rheinpark, Vaduz, Liechtenstein  Liechtenstein 8–0 Vòng loại World Cup 2018
12. 14 tháng 11 năm 2017 Sân vận động Krestovsky, Saint Petersburg, Nga  Nga 2–0 (p) 3–3 Giao hữu
13. 3–2 (p)
14. 11 tháng 9 năm 2018 Sân vận động Manuel Martínez Valero, Elche, Tây Ban Nha  Croatia 5–0 6–0 UEFA Nations League 2018–19
15. 11 tháng 10 năm 2018 Sân vận động Thiên niên kỷ, Cardiff, Wales  Wales 2–0 4–1 Giao hữu
16. 15 tháng 10 năm 2018 Sân vận động Benito Villamarín, Sevilla, Tây Ban Nha  Anh 2–3 2–3 UEFA Nations League 2018–19
17. 16 tháng 11 năm 2018 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Croatia 2–2 (p)
18. 23 tháng 3 năm 2019 Sân vận động Mestalla, Valencia, Tây Ban Nha  Na Uy 2–1 (p) 2–1 Vòng loại Euro 2020
19. 8 tháng 6 năm 2019 Tórsvøllur, Tórshavn, Quần đảo Faroe  Quần đảo Faroe 1–0 4–1
20. 10 tháng 6 năm 2019 Sân vận động Santiago Bernabéu, Madrid, Tây Ban Nha  Thụy Điển 3–0
21. 5 tháng 9 năm 2019 Arena Națională, Bucharest, România  România 2–1
22. 6 tháng 9 năm 2020 Sân vận động Alfredo Di Stéfano, Madrid, Tây Ban Nha  Ukraina 4–0 UEFA Nations League 2020–21
23. 2–0

Danh hiệu


Câu lạc bộ

Real Madrid
  • La Liga (5): 2006–07, 2007–08, 2011–12, 2016–17, 2019–20
  • Copa del Rey (2): 2010–11, 2013–14
  • Supercopa de España (4): 2008, 2012, 2017, 2019
  • UEFA Champions League (4): 2013–14, 2015–16, 2016–17, 2017–18
  • UEFA Super Cup (3): 2014, 2016, 2017
  • FIFA Club World Cup (4): 2014, 2016, 2017, 2018

Tây Ban Nha

  • Giải vô địch bóng đá U19 châu Âu: 2004
  • Euro: 2008, 2012
  • World Cup: 2010

Cá nhân

  • Giải thưởng Antonio Puerta
  • ESM Team of the Year: 2007-08
  • ESM Team of the Month: tháng 4.2007; tháng 5.2007, tháng 9.2007, tháng 10.2007, tháng 11.2007, tháng 12.2007, tháng 1.2008
  • UEFA Team of the Year: 2008, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017, 2018, 2020
  • FIFPro World XI: 2008, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017, 2018, 2020

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button